2026-07-04
HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG (PCOS) nay là HỘI CHỨNG ĐA RỐI LOẠN NỘI TIẾT, CHUYỂN HÓA, BUỒNG TRỨNG
PCOS nay đổi tên thành PMOS:
Ngày 12/5/2026, tại Hội nghị Nội tiết châu Âu tổ chức ở Praha (Cộng hòa Séc), cộng đồng nội tiết học quốc tế đã công bố quyết định: Hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) sẽ được đổi tên thành: PMOS Polyendocrine Metabolic Ovarian Syndrome (Hội chứng đa rối loạn nội tiết chuyển hóa buồng trứng).
Việc đổi tên PCOS (Polycystic Ovary Syndrome – Hội chứng buồng trứng đa nang) thành PMOS (Polyendocrine Metabolic Ovarian Syndrome – Hội chứng đa rối loạn nội tiết chuyển hóa buồng trứng) không chỉ là là thay đổi tên gọi. Đó là sự đính chính công khai về một sự hiểu lầm kéo dài. Nó cho bệnh nhân biết rằng tình trạng này không chỉ đơn giản là các u nang. Nó nhắc nhở các bác sĩ lâm sàng (Tây Y) cần suy nghĩ toàn diện về hormone, quá trình trao đổi chất, chức năng buồng trứng và sức khỏe lâu dài. Và nó cho hệ thống y tế biết rằng các vấn đề sức khỏe của phụ nữ cần những tên gọi chính xác, tôn trọng và hữu ích.
Tôi sưu tầm và đọc được hơn 100 tài liệu Trung Y nói về quan điềm của Trung Y và các công trình nghiên cứu các bài thuốc Đông Y điều trị PCOS. Những kiến thức tôi nhận thức được xin tóm tắt như sau:
Dù là PCOS hay PMOS thì cũng đều không có trong tên gọi bệnh lý Đông Y, nhưng các biểu hiện lâm sàng của nó nằm trong phạm vi các bệnh như "chậm kinh", "kinh nguyệt ít", "vô kinh thứ phát", "vô sinh" và "rong kinh" trong y học cổ truyền. Từ góc độ phì đại đa nang của buồng trứng, nó cũng có thể được phân loại là "khối u ở bụng".
Mặc dù chưa có sự thống nhất về cách phân chia thể loại để làm cơ sở cho điều trị, nhưng các tác giả của các công trình nghiên cứu, về cơ bản, đều thống nhất: cơ chế bệnh sinh cuả PCOS là do bệnh lý ở thận, tỳ và can; mà thận hư là cơ chế bệnh sinh cơ bản của PCOS, và các yếu tố bệnh lý chủ yếu là đàm thấp, khí trệ và huyết ứ.
Trong số các bệnh nhân PCOS trong độ tuổi sinh sản, những người mắc hội chứng thận hư chiếm tỷ lệ lớn, thường đi kèm với đàm thấp, huyết ứ, khí trệ.
Có nhiều thể PCOS. Các thể phổ biến nhất liên quan đến hội chứng thận hư ở PCOS là thận hư kèm đàm thấp, thận hư kèm ứ trệ gan và thận hư kèm huyết ứ. Có ít bệnh nhân chỉ có triệu chứng thận hư đơn thuần. Họ được chia thành loại thận hư, loại thận âm hư và loại thận dương hư.
Hội chứng thận hư ở PCOS thường biểu hiện là vô sinh sau hôn nhân lâu năm, kinh nguyệt thưa hoặc vô kinh, kinh nguyệt không đều, lượng kinh ít, đau thắt lưng và đầu gối, chóng mặt và ù tai. Các loại hội chứng thận hư khác nhau có biểu hiện lâm sàng khác nhau. Nếu là do thận khí hư, máu kinh sẽ nhạt màu và loãng, ham muốn tình dục thấp. Nếu là do thận âm hư, kinh nguyệt sẽ có màu đỏ và đặc, thân thể gầy yếu, nổi mụn trên mặt và trán, lòng bàn tay và lòng bàn chân nóng (ngũ tâm phiền nhiệt), lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng, mạch tế sác. Nếu là do thận dương hư, dịch âm đạo sẽ trong và loãng, lượng nhiều, thân thể tương đối béo, nước tiểu trong và nhiều, phân lỏng, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế nhược.
Nếu còn có thêm đàm thấp, kinh nguyệt sẽ nhạt và dính, dịch âm đạo trong và loãng, thân thể béo phì, rậm lông, ngực bụng to, tinh thần mệt mỏi, chân tay yếu ớt, lưỡi nhạt mầu và to, có vết răng ở hai bên, mạch trầm hoạt. Nếu có thêm ứ trệ gan, kinh nguyệt sẽ không đều, kinh nguyệt có cục máu đông, ngực căng tức trước kỳ kinh, đau bụng kinh, tinh thần chán nản, dễ cáu gắt và dễ nổi giận, mạch huyền. Nếu có thêm ứ huyết, kinh nguyệt sẽ có màu tím sẫm kèm cục máu đông, đau bụng khu trú, sắc mặt xỉn màu, rậm lông, nổi mụn trên mặt và trán, lưỡi tím sẫm có vết bầm tím và chấm xuất huyết, mạch trầm, huyền sáp.
Khoảng 40 đến 50% bệnh nhân có bệnh PCOS khởi phát vào tuổi dậy thì. Khoảng một nửa số này không béo phì. Đại đa số bệnh nhân không béo phì, lúc phát bệnh là học sinh, sinh viên, chịu nhiều áp lực trong cuộc sống. Với Đông Y, đây là những bệnh nhân thuộc thể (thận hư) can khí uất. Theo Tây Y, bệnh chủ yếu ở trục dưới đồi-tuyến yên-buồng trứng.
Theo thống kê của Bệnh viện Từ Dũ, có đến 4/5 số bệnh nhân PCOS là thể béo phì. Với Đông Y, đây là những bệnh nhân thuộc thể (thận hư) đàm thấp, tức tỳ hư nổi trội. Theo Tây Y, bệnh lý chuyển hóa ở bệnh nhân béo phì nặng hơn không béo phì, còn các rối loạn về “phụ khoa” thì cũng không thua thể không béo.
Thời gian bị bệnh càng lâu thì yếu tố huyết ứ càng đóng vai trò quan trọng và nổi bật.
Dựa trên quan điểm của Đông Y, chữa tận gốc PCOS là chữa bệnh ở thận, tỳ, can. Nhưng triệu chứng nổi bật, làm bệnh nhân lo lắng lại là biểu hiện của “phụ khoa” và bệnh nhân thường đến với thầy thuốc phụ khoa. Thầy thuốc phụ khoa chỉ bó hẹp trong chuyên khoa nên điều trị không đạt kết quả cao và kết quả tốt không giữ được lâu.
Ngày nay, để điều trị PCOS, các thầy thuốc Đông Y có thể dùng thuốc Đông Y đơn thuần, hoặc giống với hầu hết các bệnh, dùng kết hợp thuốc Đông Y và Tây Y (Metformin, Diane-35, Clomiphene, Letrozole...). Tùy nhu cầu của bệnh nhân, nếu cần điều trị vô sinh, phác đồ điều trị chu kỳ theo các giai đoạn của chu kỳ kinh nguyệt thường được áp dụng; nếu không cần sinh con, phác đồ điều trị liên tục được dùng.
Để điều trị thể béo phì, Thương Phụ Đạo Đàm thang là bài thuốc điển hình.
Để điều trị thể không béo phì, Đan Chi Tiêu Dao tán là bài thuốc điển hình.
Có rất nhiều bài thuốc kích thích rụng trứng đạt hiệu quả cao. Nhưng các bạn đừng nóng vội. Trước khi kích trứng, việc cần làm đâu tiên là điều trị những rối loạn về kinh nguyệt, giảm cân và những rỗi loạn chuyển hóa, khí huyết đầy đủ, cơ thể khỏe mạnh đã. Thời gian chuẩn bị này ít nhất là 3-6 tháng.
Dưới đây là một bài báo, tôi thấy hay nên dịch giúp bạn đọc:
Điều trị vô sinh do hội chứng buồng trứng đa nang bằng y học cổ truyền
Đăng ngày 06-07-2020, Biên tập bởi: Holiday
Theo các giai đoạn phát triển khác nhau của nang trứng, chu kỳ kinh nguyệt được chia thành bốn giai đoạn: thời kỳ sau kỳ kinh (noãn bào), thời kỳ giữa kỳ kinh (phóng noãn), thời kỳ tiền kinh nguyệt (hoàng thể) và thời kỳ kinh nguyệt:
(1) Thời kỳ hậu kinh nguyệt: Huyết biển cạn kiệt, là thời kỳ âm trưởng dương suy giảm. Thích hợp để bổ thận và huyết. Công thức được chọn là Tứ nhị ngũ hợp phương: Thục Địa hoàng 15g, Đương quy 20g, Xuyên khung 10g, Thược Dược15g, Nữ trinh tử 10g, Tảo liên thảo 20g, Cẩu kỷ tử 15g, Thố ty tử 10g, Phúc bồn tử 10g, Tử thạch anh 10g, Đỗ trọng 10g, Cam thảo 3g.
(2) Thời kỳ giữa kỳ kinh nguyệt (thời kỳ phóng noãn hay rụng trứng): Đây là thời kỳ chuyển tiếp từ Âm sang Dương. Đồng thời với bổ thận dương, cần bổ sung các loại thuốc hoạt huyết thông kinh lạc: Đương quy 20g, Thục Địa hoàng 10g, Xích Thược 10g, Xuyên khung 10g, Tiên mao 15g, Dâm dương hoắc 20g, Đan sâm 20g, Trạch lan 10g, Tam lâu 10g, Nga truật 10g, Cam thảo 3g.
3) Thời kỳ tiền kinh nguyệt (kỳ hoàng thể): Đây là thời kỳ Dương tăng và Âm suy giảm. Việc điều trị nên tập trung vào việc bổ Dương để phù hợp với những thay đổi sinh lý và thúc đẩy chu kỳ kinh nguyệt bình thường. Bài thuốc: Đương quy 20g, Xuyên khung10g, Xích Thược 15g, Tiên mao 20g, Dâm dương hoắc 20g, Đỗ trọng 10g, Thố ty tử 10g, Cẩu kỷ tử 15g, Đan sâm 20g, Tử Thạch anh 10g, Sinh Cam thảo 3g.
(4) Trong thời kỳ hành kinh: Tử cung đầy và máu tràn ra. Phương pháp điều trị cần điều hòa khí huyết để thúc đẩy sự tống xuất máu kinh nguyệt một cách thuận lợi. Dùng Đào Hồng Tứ vật thang gia giảm. Công thức gồm: Đương quy 20g, Xuyên khung 10g, Hồng hoa 10g, Đào nhân 10g, Xích Thược 15g, Ích mẫu thảo 30g, Trạch lan 10g, Tam lâu 10g, Nga truật 10g, Ngưu tất 15g, Sinh Cam thảo 3g.
Hiệu quả lâm sàng
Trong số 40 bệnh nhân được điều trị, 19 người thụ thai sau 3 chu kỳ kinh nguyệt, 13 người thụ thai sau 4-8 chu kỳ kinh nguyệt, và 6 người khác thụ thai sau khi dùng clomiphene. Hai bệnh nhân không thụ thai. Tỷ lệ mang thai là 95%.
Đánh giá kinh nghiệm lâm sàng:
Mặc dù y học cổ truyền Trung Quốc không có tên bệnh cho hội chứng buồng trứng đa nang, nhưng các biểu hiện lâm sàng của nó nằm trong phạm vi các bệnh như "chậm kinh", "kinh nguyệt ít", "vô kinh thứ phát", "vô sinh" và "rong kinh" trong y học cổ truyền Trung Quốc. Từ góc độ phì đại đa nang của buồng trứng, nó cũng có thể được phân loại là "khối u ở bụng". Y học cổ truyền Trung Quốc tin rằng thận tích trữ tinh chất, điều chỉnh sự sinh sản và là nền tảng của thể chất bẩm sinh. Khi khí thận dồi dào và tinh chất thận đầy đủ, chức năng sinh sản của thận hoạt động bình thường, cho phép trứng, với vai trò là tinh chất sinh sản, trưởng thành và được phóng thích, từ đó tạo điều kiện cho sự thụ thai. Thiếu tinh chất thận, cản trở sự trưởng thành của trứng, là nguyên nhân gốc rễ của rối loạn rụng trứng. Cho dù là thận dương hư hay thận âm hư, cả hai đều dẫn đến những thay đổi bệnh lý do thiếu hụt và ứ huyết, gây ra sự ứ trệ khí huyết ở kinh Xung và Nhâm, từ đó cản trở sự phóng thích trứng. Quá trình "Khí Thận → Thiên Quý → Xung Nhâm → Tử Cung" trong Y học Cổ truyền Trung Quốc (TCM) tương ứng với lộ trình y học phương Tây "Đồi thị-Tuyến yên-Buồng trứng-Tử Cung". Về mặt lâm sàng, dựa trên sự hiểu biết của TCM về cơ chế kinh nguyệt và các lý thuyết về tạng phủ, khí huyết, kinh mạch Xung Nhâm và Âm Dương, kết hợp với các mô hình thay đổi chức năng buồng trứng trong chu kỳ kinh nguyệt của y học hiện đại, phương pháp này mô phỏng chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ và, dựa trên việc phân loại và điều trị hội chứng, nhằm mục đích điều chỉnh trục sinh sản của hệ thống Thận-Thiên Quý-Xung Nhâm-Tử Cung để đảm bảo chức năng bình thường của nó, từ đó khôi phục sự cân bằng Âm Dương và cân bằng Khí Huyết của cơ thể.
Chức năng rụng trứng bình thường: Trong điều trị hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS), việc kích thích rụng trứng là rất quan trọng, và điều hòa kinh nguyệt là nền tảng. Do đó, chỉ kích thích rụng trứng thôi là chưa đủ trong điều trị bệnh này; cần phải kết hợp với điều hòa kinh nguyệt. Về mặt lâm sàng, thuốc được kê đơn theo chu kỳ kinh nguyệt. Sau kỳ kinh nguyệt (giai đoạn noãn bào), trọng tâm là bổ khí thận và dưỡng kinh mạch Xung và Nhâm để thúc đẩy sự phát triển của nang trứng. Trong thời kỳ giữa chu kỳ (giai đoạn rụng trứng), trọng tâm là thúc đẩy lưu thông máu và thông kinh mạch để trứng trưởng thành có thể thoát ra khỏi bề mặt buồng trứng. Trong thời kỳ tiền kinh nguyệt (giai đoạn hoàng thể), nguyên tắc là làm ấm và bổ dương thận để đảm bảo chức năng hoàng thể và tiết progesterone hoạt động bình thường. Trong thời kỳ kinh nguyệt, trọng tâm là thúc đẩy lưu thông máu và điều hòa kinh nguyệt để làm bong niêm mạc tử cung hoại tử, dẫn đến kinh nguyệt. Điều trị chứng thận hư huyết ứ là nguyên tắc cơ bản trong điều trị hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS). Các nghiên cứu dược lý hiện đại đã chỉ ra rằng y học cổ truyền Trung Quốc bổ thận có tác dụng giống như hormone nội tiết và tác dụng điều hòa hai chiều trên trục sinh dục nữ. Việc bổ sung các vị thuốc hoạt huyết vào bài thuốc bổ thận có thể cải thiện hơn nữa lưu thông máu cục bộ ở buồng trứng, tăng lưu lượng máu đến buồng trứng, từ đó thúc đẩy sự phát triển nang trứng, gây rụng trứng và thúc đẩy sự hình thành thể vàng. Vô sinh do hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) là một rối loạn nội tiết sinh sản phụ khoa phổ biến. Điều trị bằng y học cổ truyền Trung Quốc (TCM) thường có tác dụng đa mục tiêu, đa liên kết và đa con đường, có thể đồng thời điều chỉnh các chức năng nội tiết và chuyển hóa bị rối loạn ở bệnh nhân PCOS. Phương pháp này tương đối an toàn và đáng được quảng bá và nghiên cứu thêm.
Chúc các bạn khỏe mạnh và có tin vui!
BS Lâm Hữu Hòa.
HOẠI TỬ VÔ MẠCH (hay VÔ KHUẨN) CHỎM XƯƠNG ĐÙI
Hoại tử vô khuẩn (còn gọi là vô mạch) chỏm xương đùi là một bệnh thoái hóa hay gặp ở nam hơn ở nữ. Kết quả điều trị bắng Tây Y không khả quan, cuối cùng là thay khớp háng.
Tôi dịch một bài báo, tuy đăng đã lâu (cũ người mới ta), hy vọng giúp ích cho những người mắc bệnh này mà chưa phải thay khớp!
Bổ thận kiện cốt thang điều trị 52 trường hợp hoại tử vô mạch chỏm xương đùi.
Tác giả: Nguyễn Thành Quần (阮成群), Lưu Hưng Tài (刘兴才), Lý Quang Minh(李光明)
Đăng trên Tạp chí Diễn đàn Quốc Y, kỳ 4, quyển 19, tháng 7 năm 2004.
Từ năm 2001 đến năm 2003, chúng tôi đã điều trị 52 trường hợp hoại tử vô mạch chỏm xương đùi bằng Bổ Thận Kiện Cốt thang, đạt được kết quả khả quan. Báo cáo tóm tắt như sau.
1. Dữ liệu lâm sàng
1.1 Dữ liệu chung
Trong số 52 trường hợp này, có 36 nam và 16 nữ; độ tuổi từ 18 đến 45 tuổi, tuổi trung bình là 28,5 tuổi; 28 trường hợp bị bệnh bên trái, 15 trường hợp bên phải và 9 trường hợp cả hai bên; 11 trường hợp có tiền sử chấn thương khớp háng, 15 trường hợp có tiền sử nghiện rượu nặng lâu dài, 16 trường hợp có tiền sử sử dụng hormone lâu dài và 10 trường hợp không rõ nguyên nhân. Theo phân loại giai đoạn Ficat, có 7 trường hợp ở giai đoạn I, 17 trường hợp ở giai đoạn IIA, 13 trường hợp ở giai đoạn IIB, 9 trường hợp ở giai đoạn III và 6 trường hợp ở giai đoạn IV; thời gian từ khi khởi phát đến khi khám bệnh từ 6 tháng đến 3 năm, thời gian bị bệnh trung bình là 1,5 năm.
1.2 Bệnh trạng:
Tất cả bệnh nhân trong số này đều có triệu chứng đau hông khu trú, hạn chế gập và duỗi khớp, chủ yếu là hạn chế dạng và xoay trong. Cơn đau tăng lên khi gập và khép hông, kèm theo hiện tượng ngắn chi. Cơn đau trầm trọng hơn sau khi gắng sức, kèm theo đau nhức và yếu ở vùng lưng dưới và đầu gối, chóng mặt và ù tai, mất ngủ và mơ màng. Lưỡi nhợt nhạt, mạch huyền trì hoặc tế sáp.
1.3 Dữ liệu cận lâm sàng
Kết quả chụp X-quang cho thấy có các mảnh xương chết và những thay đổi dạng nang ở mặt trước bên của chỏm xương đùi, với mức độ xẹp chỏm xương đùi khác nhau. Chụp xạ hình xương cho thấy một dải nổi lên bao quanh vùng giảm hoạt độ phóng xạ.
2.Phương pháp điều trị
Công thức cơ bản là Bổ Thận Kiện Cốt thang: Sinh Hoàng kỳ 15g, Đương quy 10g, Tục đoạn 10g, Đỗ trọng 10g, Ngưu tất 10g, Đào nhân 9g, Hồng hoa 8g, Xích Thược 10g, Cam thảo 6g.
Gia giảm:
Đối với đau dữ dội, thêm Huyền hồ, Hương phụ mỗi vị 9g;
Đối với tình trạng khớp hạn chế vận động, thêm Nhũ hương, Một dược mỗi vị 10g;
Đối với hoại tử xơ hóa rõ rệt trên phim X-quang, thêm Tam lâu, Nga truật mỗi vị 10g;
Đối với loãng xương và thay đổi dạng nang rõ rệt, thêm Cốt toái bổ, Bổ cốt chỉ mỗi vị 10g.
Mỗi ngày dùng một thang, cho 800ml nước, ngâm trong 20 phút, đun nhỏ lửa. Sắc hai lần, trộn đều và thu được 400ml nước sắc. Uống hai lần mỗi ngày, sáng và tối, một tháng là một liệu trình.
3.Kết quả điều trị
3.1 Tiêu chí hiệu quả:
Rất tốt: Không đau hông hoặc khập khiễng; X-quang cho thấy sự phục hồi hoàn toàn của xương hoại tử và sự xuất hiện trở lại của cấu trúc xương.
Tốt: Thỉnh thoảng đau hông nhẹ, khập khiễng không đáng kể; X-quang cho thấy hầu hết xương hoại tử còn nguyên vẹn, và chỏm xương đùi không bị xẹp trở lại.
Khá: Đau hông nhẹ và khập khiễng; X-quang cho thấy sự phục hồi chậm của xương hoại tử, và chỏm xương đùi không bị xẹp trở lại.
Kém: Đau hông và khập khiễng vẫn tiếp diễn; X-quang cho thấy không có dấu hiệu phục hồi xương hoại tử, và chỏm xương đùi tiếp tục bị xẹp.
3.2 Kết quả điều trị
Trong số 52 trường hợp này, thời gian theo dõi dao động từ 3 tháng đến 2 năm. Kết quả rất tốt ở 17 trường hợp, tốt ở 26 trường hợp, khá ở 7 trường hợp và kém ở 2 trường hợp, với tỷ lệ hiệu quả tổng thể là 96,2%.
4. Thảo luận
Hoại tử vô mạch chỏm xương đùi là một quá trình bệnh lý do nhiều yếu tố gây ra, dẫn đến suy giảm tuần hoàn máu ở đầu xương đùi, gây chết các tế bào xương, tế bào tủy xương và tế bào mỡ. Hiện nay, trong Y học cổ truyền, bệnh này được xếp vào loại "ăn mòn xương". Nguyên nhân chính là do chấn thương, tác nhân gây bệnh từ bên ngoài, thiếu hụt bẩm sinh và căng thẳng tinh thần, dẫn đến suy gan thận và ứ huyết. Vì thận điều tiết xương và sản sinh tủy, gan điều tiết gân, nên suy gan thận dẫn đến suy dinh dưỡng gân và xương. Xương là khung, gân tạo độ cứng; gân liên kết xương và tạo điều kiện cho chuyển động khớp. Nếu gân và xương không hoạt động bình thường, sự gập duỗi khớp sẽ bị hạn chế. Tuần hoàn máu và khí kém dẫn đến đau, gây đau khớp, nuôi dưỡng xương kém và cuối cùng là hoại tử xương do cạn kiệt tủy xương. Bổ thận kiện cốt thang sử dụng các loại thảo dược như Tục đoạn, Đỗ trọng và Ngưu tất để bổ gan thận, tăng cường gân cốt; Đào nhân, Hồng hoa và Xích Thược để hoạt huyết và tiêu huyết ứ; Sinh Hoàng kỳ và Đương quy để bổ khí, dưỡng huyết; và Cam thảo để điều hòa tác dụng của các loại thảo dược khác. Dựa trên lý thuyết y học cổ truyền về "thận chi phối xương và sản sinh tủy" và "không tiêu huyết ứ thì xương mới không thể phát triển", bài thuốc này cải thiện tuần hoàn máu cục bộ, giảm đau và thúc đẩy phục hồi chức năng khớp bằng cách hoạt huyết và tiêu huyết ứ. Hơn nữa, các loại thảo dược bổ thận và tăng cường sức khỏe xương khớp có thể ngăn ngừa hoại tử xương, thúc đẩy phục hồi xương và ngăn ngừa xẹp đầu xương đùi, từ đó đạt được hiệu quả điều trị toàn diện.
Ngoài ra, cần lưu ý những điều sau trong quá trình điều trị:
① Kiểm soát cân nặng của bệnh nhân, sử dụng nạng và giảm tải trọng cũng như mức độ hoạt động để giảm áp lực lên khớp háng.
② Bệnh nhân lớn tuổi có khả năng phục hồi xương kém và khả năng dung nạp thuốc giảm; do đó, cần giảm liều lượng thuốc.
③ Theo dõi thường xuyên rất quan trọng để tránh việc chịu tải trọng quá sớm sau khi các triệu chứng thuyên giảm, điều này có thể dẫn đến xẹp chỏm xương đùi.
Ý kiến của người sưu tầm và dịch: Hoại tử vô mạch chỏm xương đùi còn được gọi là Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi. Tôi dịch đúng nghĩa trong bài và thấy từ “vô mạch” nói lên nguyên nhân, hay hơn là từ “vô khuẩn” nói lên hiện tượng.
Tôi tìm được 2 bài báo nữa cũng dùng Bổ thận kiện cốt thang điều trị hoại tử vô mạch chỏm xương đùi, nhưng chọn dịch bài này vì bài thuốc đơn giản, phần gia giảm viết chi tiết, hiệu quả cao, tuy kích thước mẫu không lớn (số lượng bệnh nhân tham gia không đông) và không có đối chứng. Hai nghiên cứu kia tuy có kích thước mẫu lớn, nhưng kết hợp với thuốc tây, bài thuốc phức tạp hơn nhưng kết quả kém hơn. Ngoài kết luận Bổ thận kiện cốt thang có tác dụng tốt trong điều trị hoại tử vô mạch chỏm xương đùi, điều mà 2 bài báo kia cho chúng ta biết thêm là những bệnh nhân tổn thương nhẹ (độ I và II) hồi phục tốt hơn những bệnh nhân nặng; tức là điều trị càng sớm càng tốt.
Nghiên cứu này là nghiên cứu định hướng, giúp chúng ta hướng điều trị chứ không hướng dẫn điều trị cụ thể. Để điều trị bệnh hoại tử vô mạch chỏm xương đùi, tùy mức độ tổn thương lúc bắt đầu điều trị và tùy sự đáp ứng của từng bệnh nhân mà thời gian điều trị sẽ ngắn, dài khác nhau, không thể ai cũng chỉ điều trị 1 tháng. Theo tôi, liệu trình 1 tháng là quá ngắn với đại đa số bệnh nhân.
Viết cho những bạn lần đầu dùng thuốc sắc! Nên rửa sạch thuốc trước khi sắc! 2 lần đầu, rửa nhanh, chỉ khoảng 20 giây mỗi lần; lần thứ ba thì rửa kỹ. Nhớ giã nhuyễn hạt đào (Đào nhân) trước khi sắc.
PS: Tôi có ý định sẽ nói về điều trị Hội chứng buồng trứng đa nang bằng Đông Y. Nếu các bạn muốn đọc thì cho ý kiến!
BS Lâm Hữu Hòa
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)