2016-03-08

BÁO CÁO KẾT QUẢ MỘT TRƯỜNG HỢP BASEDOW ĐIỀU TRỊ BẰNG CỨU NGẢI


Hiện nay, có 3 phương pháp điều trị Basedow: Nội khoa (uống thuốc), Ngoại khoa (phẫu thuật) và xạ trị. Điều trị bằng thuốc, tỷ lệ thành công không cao, thời gian uống thuốc trung bình từ 12-18 tháng. Khả năng thành công trong điều trị bằng cách cắt bỏ bán phần truyến giáp phụ thuốc rất nhiều vào tay nghề của BS phẫu thuật và cũng giống với xạ trị, tỷ lệ chuyển thành suy giáp rất cao và tăng theo thời gian.

Tôi biết có bạn đã điều trị thành công Basedow bằng Diện Chẩn. Tôi đọc được nhiều bài viết về điều trị Basedow bằng cứu ngải, nay mới có cơ duyên để áp dụng. Tôi xin chia sẻ cùng các bạn!

Bệnh nhân TTHT, nữ, 30 tuổi, nhân viên của Phòng Khám Hoàng Long, Hà Nội. Phòng Khám Hoàng Long cũng là nơi tôi, BS Lâm Hữu Hòa, đang làm việc.

   Cuối năm 2015, sau khi sinh con thứ hai được 3 tháng, T thấy chóng mệt khi gắng sức, người không có cảm giác lạnh như người khác, dù trời lạnh. Có BS ở PK phát hiện T có bướu cổ nên khuyên đi làm XN.


KQ XN hormone làm ngày 10/12/2015: T3 3,87nmol/L (chỉ số bình thường: 0,92-2,79nmol/L); FT4 43,88pmol/L (11-23pmol/); TSH 0,009µU/L (0,35-5,5 µU/L).

KQ siêu âm tuyến giáp ngày 10/12/2015: Thùy phải và trái tuyến giáp tăng nhẹ kích thước, nhu mô không đều, không có khối bất thường. Trên siêu âm Doppler màu nhu mô tuyến tưới máu đều; Vùng eo tuyến giáp có vài nốt giảm âm, bờ đều, ranh giới rõ, kích thước 6,3x2,9mm. Kết luận: Hình ảnh nhân vùng eo tuyến giáp. Đây là kết quả của BS siêu âm sau khi nghe T nói là đi kiểm tra sức khỏe.

Khám lâm sàng, ngoài bướu cổ độ I, không có tiếng thổi, chỉ có chóng mệt khi gắng sức, người không có cảm giác lạnh như người khác, dù trời lạnh còn hầu như không có triệu chứng cường giáp rõ rệt: không có lồi mắt, không có hiện tượng co cơ mi; tay không ẩm, không run; không sút cân; nhịp tim lúc nghỉ không nhanh, 72-76 nhịp/phút.

Căn cứ vào lâm sàng, siêu âm và nhất là XN hormone, tôi chẩn đoán T bị cường giáp (Basedow). Vì T đang cho con bú nên tôi khuyên điều trị bằng phương pháp cứu ngải và tiếp tục cho con bú.

Tôi dùng phương pháp ôn hòa cứu, cứu cách gừng các huyệt: Đại chùy, Phế Du và Phong trì. Mỗi huyệt cứu khoảng 10 phút. Mỗi ngày điều trị 1 lần. 10 ngày là 1 liệu trình. Nghỉ 2 ngày giữa các liệu trình.
  


KQ XN sau khoảng 1 tháng điều trị, làm ngày 13/01/2016: FT4 35,47pmol/L. TSH 0,006µU/L. Thật ra, không cần làm TSH ở thời điểm này vì tôi biết TSH thay đổi chậm hơn nhiều so với FT4. Nhưng vì áp dụng phương pháp “lạ”, tôi muốn theo dõi nên vẫn cho làm. Tôi nhận định là kết quả điều trị tốt. Tôi khuyên T tiếp tục điều trị như trước.

Sau 2 tháng điều trị, T không còn thấy mệt khi gắng sức và đã có cảm giác lạnh như mọi người.

KQ XN sau khoảng 3 tháng điều trị, làm ngày 05/03/2016: FT4 11,23 pmol/L; TSH 3,14 µU/L.

KQ siêu âm tuyến giáp, ngày 08/03/2016: Thùy phải và trái tuyến giáp kích thước bình thường, nhu mô tuyến giảm âm không đều, không có khối bất thường. Trên siêu âm Doppler màu nhu mô tuyến tăng tưới máu đều; Vùng eo tuyến sát thùy trái có nốt giảm âm, bờ đều, ranh giới rõ, đường kính 3,1mm. Kết luận: Hình ảnh theo dõi Basedow, nhân vùng eo tuyến giáp. Đây là kết quả của BS siêu âm sau khi nghe T nói là đi kiểm tra sau 3 tháng điều trị Basedow.

Như vậy, sau 3 tháng điều trị, các chỉ số cơ bản để chẩn đoán và điều trị Basedow đều nằm trong giới hạn bình thường.

Từ nay, T sẽ được chuyển sang giai đoạn điều trị củng cố: Cứu ngải cách ngày. Sau 1 tháng nữa, nếu nồng độ FT4 và TSH vẫn trong giới hạn bình thường thì chuyển sang điều trị duy trì: cứu ngải 1-2 lần/tuần.

Đây là trường hợp đầu tiên tôi điều trị Basedow bằng phương pháp cứu ngải, vì vậy tôi cho rằng thời gian điều trị nên tương đương thời gian uống thuốc.

Viết thêm sau 1 năm theo dõi

T điều trị theo phác đồ trên được 6 tháng thì kết thúc vì thấy tình trạng sức khỏe hoàn toàn bình thường.

Tháng 9/2016, Kết quả xét nghiệm T3, FT4 và TSH đều trong giới hạn bình thường.


Cuối tháng 12/2016, tức là 1 năm sau tính từ khi bắt đầu điều trị, kết quả xét nghiệm như sau:


T3: 1,61                FT4: 18,5                TSH: 2,24



Ngày làm XN
FT4
(11-23 pmol/)
TSH
(0,35-5,5 µU/L)
10/12/2015
43,88
0,009
13/01/2016
35,47
0,006
05/03/2016
11,23
3,14
09/2016
Kết quả xét nghiệm T3, FT4 và TSH đều trong giới hạn bình thường.
Cuối 12/2016
18,5
2,24


                                                     BS Lâm Hữu Hòa.
                                                         093 650 9494

Để so sánh một cách khách quan các phương pháp điều trị Basedow, mời các bạn đọc ba tài liệu có link dưới đây. Tôi xin chép lại các đoạn chính:

“Thời gian điều trị (Nội khoa) thường khá dài, từ 6-18 tháng, nếu điều trị càng lâu tỷ lệ tái phát càng thấp. Ðiều trị nội khoa đem lại một số ích lợi cho bệnh nhân như: ít biến chứng, không phải trải qua một cuộc phẫu thuật. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những điểm bất lợi như tỷ lệ tái phát cao (lên đến 75%), bệnh nhân bị một số biến chứng của việc dùng thuốc kháng giáp tổng hợp lâu dài và nhất là việc tồn tại của bướu giáp (gây mất thẩm mỹ và là nguyên nhân chính khiến nhiều BN phải đi điều trị).”

“Điều trị Basedow bằng phẫu thuật: Suy giáp 20-30% trường hợp. Tái phát khoảng 15% trường hợp.”

“I-131 thường phát huy hiệu quả điều trị từ 6-8 tuần sau khi uống thuốc. Vì vậy nên đánh giá kết quả điều trị sau 3-4 tháng. Theo nhiều thống kê cho thấy có tới hơn 85 % bệnh nhân hết các triệu chứng cường giáp sau 3-5 tháng nhận liều điều trị bằng I-131. Số lần điều trị trung bình cho mỗi bệnh nhân là khoảng 6,2 ±1,1 lần.”
PGS.TS. Mai Trọng Khoa
Trưởng Khoa Y học hạt nhân và Điều trị ung bướu - BV Bạch Mai
Phó Trưởng Bộ môn Y học hạt nhân - Đại học Y Hà Nội


2015-11-20

CỨU NGẢI CHỮA HO SAU CÚM

     Hàng năm, thời điểm giao mùa giữa thu và đông là thời điểm nhiều người dễ mắc bệnh, đặc biệt là các bệnh về đường hô hấp, trong đó có bệnh cúm.

     Những người có khả năng miễn dịch tương đối thấp, sau khi bị cúm, dễ bị ho phản phục. Những người này thường có thể chất hư hàn. Ho thường nhẹ, không dữ dội, nhưng dai dẳng. Có người ho kèm khạc ít đờm loãng, trong; có người ho không có đờm; có người buổi sang ngủ dậy, có cảm giác ngứa họng và ho. Dùng kháng sinh không cải thiện được nhiều, nên nhiều người dùng vài đợt kháng sinh vẫn không dứt ho. Đông Y cho rằng: kháng sinh có tính chất hàn, vì vậy không nên dùng dài ngày cho những người hư hàn. Châm cứu, giác hơi làm ấm các huyệt có tác dụng tương đối tốt.

      Cứu ngải là một phương pháp điều trị có hiệu quả cao, không có tác dụng phụ lại đơn giản, thích hợp thực hiện ở nhà nhưng cần kiên trì. Sau thời gian điều trị bằng phương pháp cứu ngải, ngoài việc khỏi ho, còn có tác dụng nâng cao thể trạng, tăng cường khả năng kháng bệnh.

       Để điều trị ho sau cúm, các huyệt thường dùng là: LIỆT KHUYẾT, XÍCH TRẠCH và PHẾ DU.

       Cách xác định huyệt:

       LIỆT KHUYẾT:
       Vị trí: Ở trên cổ tay phía ngón cái, cạnh ngoài mặt trước đầu xương quay, trên nếp gấp cổ tay 1,5 thốn. 

      Cách xác định huyệt: hai lòng bàn tay hướng xuống dưới, hai hổ khẩu giao nhau. Khi bàn tay phải ở phía trên thì đầu ngón tay trỏ của bàn tay phải sẽ trỏ đúng huyệt Liệt Khuyết của tay trái và ngược lại.



     XÍCH TRẠCH:
     Vị trí: ở nếp gấp trước khuỷu tay, cạnh ngoài gân của cơ nhị đầu cánh tay, gần giữa, về phía xương quay.

Cách lấy huyệt: Ngồi ngay ngắn, cánh tay đưa ngang ra, khuỷu tay hơi gấp, trên khuỷu tay hiện rõ một gân lớn, ở cạnh ngoài gân đó (phía xương quay), có một chỗ lõm, đó là huyệt.



PHẾ DU:
      Dưới gai đốt sống lưng 3 (D3), đo ngang ra 1,5 thốn.



           Cách cứu:
       Để đầu điếu ngải được đốt cháy cách huyệt khoảng 1,5-2 cm. Mỗi huyệt cứu khoảng 3-5 phút. Khi cứu, nếu thấy nóng rát thì đưa điếu ngải qua-lại, lên-xuống, tránh bị bỏng.




       Để làm tăng hiệu quả điều trị, trước khi cứu, nên day các huyệt. Dùng đầu ngón tay cái day các huyệt Liệt Khuyết và Xích Trạch (hai bên), mỗi huyệt day khoảng 30 lần. Gấp ngón tay trỏ, dùng phần mu đốt thứ 2 của ngón trỏ day huyệt phế du khoảng 30 lần; Dùng mặt bụng 2 ngón tay cái miết lên-xuống từ huyệt phế du dọc bờ trong của xương bả vai khoảng 30-50 lần.

     Để làm tăng tác dụng làm ấm phổi, nên hơ ngải cho nóng rát phản chiếu phổi ở bàn tay và bàn chân; Dán Salonpas lên vùng liên bả vai (phóng chiếu của hai rốn phổi, huyệt Phế Du và phía dưới)





         BS LÂM HỮU HÒA
              093 650 9494

2015-07-18

PHÁC ĐỒ TỔNG HỢP ĐIỀU TRỊ SỐT VIRUS

Các bạn thân mến! Tôi tổng hợp và giới thiệu với các bạn các phác đồ điều trị các bệnh virus cấp tính và phương pháp phòng bệnh virus đường hô hấp.

Các phác đồ điều trị này dựa trên Thuyết Diện Chẩn do GS-TS Bùi Quốc Châu phát minh và sáng lập.  

Phương pháp phòng bệnh virus cấp tính đường hô hấp:

Virus đường hô hấp muốn gây được bệnh, trước hết phải bám vào niêm mạc mũi, sau đó xâm nhập vào các tế bào đường hô hấp, sinh sản trong đó và gây bệnh.

Để phòng bệnh, trước khi tiếp xúc với người bệnh, chỉ cần dùng tăm bông nhúng vào dầu thực vật (loại dầu ăn), rồi bôi lên niêm mạc mũi, tạo một lớp màng ngăn, không cho virus tiếp xúc với niêm mạc mũi. Khi ra khỏi vùng bệnh, rửa sạch mũi bằng cách hít nước muối loãng. Rửa mũi bằng nước muối loãng vừa có tác dụng phòng bệnh, vừa có tác dụng rửa sạch virus tránh tái nhiễm trong khi điều trị.

 Mời các bạn xem video clip của tôi trên Youtube hướng dẫn cách rửa mũi 



Các phác đồ điều trị bệnh virus:  

PHÁC ĐỒ I CỦA L.Y TẠ MINH: TÁC ĐỘNG LÊN 8 VÙNG TRÊN MẶT
Cách tác động: Từ vùng 1 đến vùng 5, dùng cào nhỏ (hoặc dĩa 3 chạc loại dầy, đầu tù) CÀO NHƯ GÃI NHẸ mỗi vùng 30-40 lần. Các vùng 6, 7, 8, dùng đầu dò (hoặc chạc ngoài cùng của dĩa) vạch mỗi vùng 30-40 lần. Cần cào theo thứ tự vùng. Bệnh nhân thường sốt, cào bên phải trước, bên trái sau.  
1) Sống mũi
2) Bờ sau tóc mai
3) Đối bình tai
4) Chân tóc trán
5) Góc trong của mắt
6) Đường cong cánh mũi
7) Đường pháp lệnh hay nếp nhăn mũi-má
8) Đường cong ụ cằm.

Tác động hết 8 vùng là một lượt điều trị. Tác động 4 lượt cách nhau 1 tiếng.
Dùng các phác đồ này cùng với kháng sinh sẽ làm tăng hiệu quả điều trị bệnh nhiễm trùng.
Ngoài ra, tác động theo các phác đồ này còn có tác dụng tăng sức đề kháng, chỉ có một điểm khác là cào bên trái trước, bên phải sau. Tác động 4 lượt mỗi ngày, 10 ngày là 1 liệu trình. Nghỉ vài ngày giữa 2 liệu trình. Lặp lại vài liệu trình.

Thực tế, tôi cào thứ tự như sau: 1- 2 và 3 phải rồi sang 2 và 3 trái. Từ vùng 4 trở đi, cào như trên.
Mời các bạn xem video clip hướng dẫn cào theo phác đồ I: 




PHÁC ĐỒ TỔNG HỢP CỦA BS LÂM HỮU HÒA 
ĐIỀU TRỊ SỐT VIRUS
MẶT:
1- Cào và vạch toàn bộ Phác đồ I.

BÀN TAY
2- Vạch khe liên ngón 2-3: Hạ sốt
3- Cào mu ngón tay cái phản chiếu (PC) cột sống: Điều chỉnh hệ TKTV
4- Cào điểm ở nếp cổ tay phần mu bàn tay, phía ngón út: PC hệ bạch huyết nửa thân trên.
5- Cào điểm ở nếp cổ tay phần mu bàn tay, phía ngón cái: PC hệ bạch huyết nửa thân dưới.
6- Cào điểm ở khe liên ngón 1-2 gần khớp bàn-ngón cái: PC hệ bạch huyết vùng ngực.



BÀN CHÂN
7- Cào vùng trước trên mắt cá ngoài: PC hệ bạch huyết nửa thân trên.
8- Cào vùng trước trên mắt cá trong: PC hệ bạch huyết nửa thân dưới.
9- Cào khe liên bàn 1-2: PC hệ bạch huyết vùng ngực.




Cào theo tứ tự: cào bên phải trước bên trái sau. Mỗi vị trí cào hoặc vạch 40 lần. Cào hết các vùng ở mặt, tay và chân là 1 lượt điều trị. Cào 4-5 lượt, cách nhau 1 tiếng. Phác đồ tổng hợp này điều trị cho bệnh nhân được điều trị muộn (từ ngày thứ 2 của bệnh trở đi) hoặc sốt cao cho kết quả rất tốt.

Thực tế, tôi cào 1 đường từ điểm 4 sang 5 và cào hết các vùng trên tay phải rồi sang tay trái, cào chân phải rồi sang chân trái.

Gần đây, tôi bổ xung 2 huyệt có tác dụng chống viêm rất tốt: 
1) Huyệt Dịch Môn, ở khe liên ngón út và ngón nhẫn. Khi tác động đến các huyệt ở bàn tay, huyệt này sẽ được tác động đầu tiên (vạch) 

2) Huyệt Chiếu Hải, ở dưới mắt cá trong 1 thốn. Khi tác động đến các huyệt ở bàn chân, huyệt này sẽ được tác động cuối cùng (cào)


          Chúc các bạn khỏe mạnh!

PS: Nếu không có dụng cụ, các bạn lấy móng tay mà cào hoặc dùng đầu ngón tay mà day.
                                                      BS Lâm Hữu Hòa 

                                                         093 650 9494