2015-07-18

PHÁC ĐỒ TỔNG HỢP ĐIỀU TRỊ SỐT VIRUS

Các bạn thân mến! Tôi tổng hợp và giới thiệu với các bạn các phác đồ điều trị các bệnh virus cấp tính và phương pháp phòng bệnh virus đường hô hấp.

Các phác đồ điều trị này dựa trên Thuyết Diện Chẩn do GS-TS Bùi Quốc Châu phát minh và sáng lập.  

Phương pháp phòng bệnh virus cấp tính đường hô hấp:

Virus đường hô hấp muốn gây được bệnh, trước hết phải bám vào niêm mạc mũi, sau đó xâm nhập vào các tế bào đường hô hấp, sinh sản trong đó và gây bệnh.

Để phòng bệnh, trước khi tiếp xúc với người bệnh, chỉ cần dùng tăm bông nhúng vào dầu thực vật (loại dầu ăn), rồi bôi lên niêm mạc mũi, tạo một lớp màng ngăn, không cho virus tiếp xúc với niêm mạc mũi. Khi ra khỏi vùng bệnh, rửa sạch mũi bằng cách hít nước muối loãng. Rửa mũi bằng nước muối loãng vừa có tác dụng phòng bệnh, vừa có tác dụng rửa sạch virus tránh tái nhiễm trong khi điều trị.

 Mời các bạn xem video clip của tôi trên Youtube hướng dẫn cách rửa mũi 



Các phác đồ điều trị bệnh virus:  

PHÁC ĐỒ I CỦA L.Y TẠ MINH: TÁC ĐỘNG LÊN 8 VÙNG TRÊN MẶT
Cách tác động: Từ vùng 1 đến vùng 5, dùng cào nhỏ (hoặc dĩa 3 chạc loại dầy, đầu tù) CÀO NHƯ GÃI NHẸ mỗi vùng 30-40 lần. Các vùng 6, 7, 8, dùng đầu dò (hoặc chạc ngoài cùng của dĩa) vạch mỗi vùng 30-40 lần. Cần cào theo thứ tự vùng. Bệnh nhân thường sốt, cào bên phải trước, bên trái sau.  
1) Sống mũi
2) Bờ sau tóc mai
3) Đối bình tai
4) Chân tóc trán
5) Góc trong của mắt
6) Đường cong cánh mũi
7) Đường pháp lệnh hay nếp nhăn mũi-má
8) Đường cong ụ cằm.

Tác động hết 8 vùng là một lượt điều trị. Tác động 4 lượt cách nhau 1 tiếng.
Dùng các phác đồ này cùng với kháng sinh sẽ làm tăng hiệu quả điều trị bệnh nhiễm trùng.
Ngoài ra, tác động theo các phác đồ này còn có tác dụng tăng sức đề kháng, chỉ có một điểm khác là cào bên trái trước, bên phải sau. Tác động 4 lượt mỗi ngày, 10 ngày là 1 liệu trình. Nghỉ vài ngày giữa 2 liệu trình. Lặp lại vài liệu trình.

Thực tế, tôi cào thứ tự như sau: 1- 2 và 3 phải rồi sang 2 và 3 trái. Từ vùng 4 trở đi, cào như trên.
Mời các bạn xem video clip hướng dẫn cào theo phác đồ I: 




PHÁC ĐỒ TỔNG HỢP CỦA BS LÂM HỮU HÒA 
ĐIỀU TRỊ SỐT VIRUS
MẶT:
1- Cào và vạch toàn bộ Phác đồ I.

BÀN TAY
2- Vạch khe liên ngón 2-3: Hạ sốt
3- Cào mu ngón tay cái phản chiếu (PC) cột sống: Điều chỉnh hệ TKTV
4- Cào điểm ở nếp cổ tay phần mu bàn tay, phía ngón út: PC hệ bạch huyết nửa thân trên.
5- Cào điểm ở nếp cổ tay phần mu bàn tay, phía ngón cái: PC hệ bạch huyết nửa thân dưới.
6- Cào điểm ở khe liên ngón 1-2 gần khớp bàn-ngón cái: PC hệ bạch huyết vùng ngực.



BÀN CHÂN
7- Cào vùng trước trên mắt cá ngoài: PC hệ bạch huyết nửa thân trên.
8- Cào vùng trước trên mắt cá trong: PC hệ bạch huyết nửa thân dưới.
9- Cào khe liên bàn 1-2: PC hệ bạch huyết vùng ngực.




Cào theo tứ tự: cào bên phải trước bên trái sau. Mỗi vị trí cào hoặc vạch 40 lần. Cào hết các vùng ở mặt, tay và chân là 1 lượt điều trị. Cào 4-5 lượt, cách nhau 1 tiếng. Phác đồ tổng hợp này điều trị cho bệnh nhân được điều trị muộn (từ ngày thứ 2 của bệnh trở đi) hoặc sốt cao cho kết quả rất tốt.

Thực tế, tôi cào 1 đường từ điểm 4 sang 5 và cào hết các vùng trên tay phải rồi sang tay trái, cào chân phải rồi sang chân trái.

Gần đây, tôi bổ xung 2 huyệt có tác dụng chống viêm rất tốt: 
1) Huyệt Dịch Môn, ở khe liên ngón út và ngón nhẫn. Khi tác động đến các huyệt ở bàn tay, huyệt này sẽ được tác động đầu tiên (vạch) 

2) Huyệt Chiếu Hải, ở dưới mắt cá trong 1 thốn. Khi tác động đến các huyệt ở bàn chân, huyệt này sẽ được tác động cuối cùng (cào)


          Chúc các bạn khỏe mạnh!

PS: Nếu không có dụng cụ, các bạn lấy móng tay mà cào hoặc dùng đầu ngón tay mà day.
                                                      BS Lâm Hữu Hòa 

                                                         093 650 9494

2015-04-23

CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH TRÀO NGƯỢC DẠ DẦY-THỰC QUẢN



CÁCH ĐIỀU TRỊ
BỆNH TRÀO NGƯỢC DẠ DẦY-THỰC QUẢN

   Bệnh trào ngược dạ dầy-thực quản là bệnh lý đường tiêu hóa, do cơ thắt dưới của thực quản (cơ thắt tâm vị) bị nhão, thắt không chặt. Bình thường, khi chúng ta nuốt, cơ thắt tâm vị sẽ mở ra để cho thức ăn đi qua và vào dạ dầy. Sau đó, cơ thắt tâm vị đóng lại, không cho thức ăn và dịch dạ dầy trào ngược lên thực quản mà chỉ được đi xuống ruột nhờ sự co bóp của dạ dầy. Ở người bị bệnh trào ngược dạ dầy-thực quản, do cơ tâm vị thắt không chặt, dưới sức co bóp của dạ dầy, một ít dịch vị, đôi khi cả thức ăn trào ngược lên thực quản. Một số ít bệnh nhân có hiện tượng thoát vị cơ hoành cùng bệnh trào ngược dạ dầy-thực quản.

   Trong việc điều trị bệnh trào ngược dạ dầy-thực quản hiện nay, thuốc chủ đạo là các nhóm thuốc giảm tiết a-xit của dịch vị. Một số biện pháp cũng được áp dụng:
- Tránh gây tăng áp lực trong dạ dầy, ổ bụng: chia nhỏ bữa ăn, tránh ăn quá no; tránh thức ăn sinh hơi, ăn xong không nằm ngay, kê cao đầu giường...
- Tránh các thức ăn dễ gây hiện tượng trào ngược
- Tránh các thức ăn được cho là làm nhão cơ thắt tâm vị
- Có thể dùng một số thuốc điều hòa nhu động (sự co bóp) của dạ dầy và thực quản
- Và cuối cùng là phẫu thuật

   Tất cả các phương pháp trên đều là thụ động và không tác động đến cơ thắt tâm vị, chính cái cơ bị yếu và gây nên bệnh.

   Trước khi nói đến phương pháp mà tôi đề nghị chữa bệnh trào ngược dạ dầy-thực quản, chúng ta hãy cùng xem xét cơ chế hoạt động của đai an toàn trong xe ô tô. Khi chúng ta kéo từ từ đai an toàn, thì đai được nới dần ra. Khi chúng ta kéo mạnh, giống như khi xe đang đi trên đường gặp sự cố, khóa đai thắt chặt, không cho đai được nới thêm.

   Phương pháp mà tôi đề nghị chữa bệnh trào ngược dạ dầy-thực quản là: Khi đói, hãy uống một cốc nước to và nằm đầu thấp hơn thân, càng dựng đứng giống động tác “trồng cây chuối” càng tốt. Nước có tác dụng thúc ép cơ thắt tâm vị thắt chặt hơn và phần nào làm cho các bạn yên tâm rằng, nước đã pha loãng dịch vị nên nếu các bạn có sợ dịch vị chảy ra thì đó cũng là dịch vị loãng. Nhưng các bạn cứ thử xem, không bao giờ dịch vị chảy ra trong khi “trồng cây chuối” cả!!!
Nên nằm đầu thấp hơn thân hay “trồng cây chuối” vài phút lại đứng dậy, một lúc sau lại tập tiếp. Làm như vậy, có kết quả tốt hơn là “trồng cây chuối” liên tục 15-20 phút.
    Những người bị b
ệnh trào ngược dạ dầy-thực quản do thoát vị hoành, trong khi nằm dốc đầu, nên thở bằng cơ hoành: hít vào phình bung, thở ra thót bụng. Cách thở này cải thiện trương lực của cơ hoành rất tốt. Những người béo bụng dễ bị trào ngược và thoát vị hoành, cần giảm cân.

     Nếu kết hợp với thở 4-6 càng tốt: Trong khi hít vào, đếm 1-2-3-4; Trong khi nín thở, đếm 1-2-3-4-5-6. 
Trong khi thở ra, đếm 1-2-3-4; Trong khi nín thở, đếm 1-2-3-4-5-6. Đạt được mức mỗi lần đếm là 1 giây thì mỗi nhịp thở là 20 giây; 3 nhịp thở/phút, thì kết quả sẽ tuyệt vời.

Chúc các bạn chóng khỏi bệnh!
                                                                       
                               Bác sỹ Lâm Hữu Hòa
                                     093 650 9494




                
                                                                         

2015-04-16

CHỮA BỆNH VIRUS CẤP TÍNH BẰNG DIỆN CHẨN

CHỮA BỆNH VIRUS CẤP TÍNH
BẰNG DIỆN CHẨN

Các bạn thân mến! Tôi tổng hợp và giới thiệu với các bạn các phác đồ điều trị các bệnh virus cấp tính và phương pháp phòng bệnh virus đường hô hấp.

Các phác đồ điều trị này dựa trên Thuyết Diện Chẩn do GS-TS Bùi Quốc Châu phát minh và sáng lập.  

Phương pháp phòng bệnh virus cấp tính đường hô hấp:

Virus đường hô hấp muốn gây được bệnh, trước hết phải bám vào niêm mạc mũi, sau đó xâm nhập vào các tế bào đường hô hấp, sinh sản trong đó và gây bệnh.

Để phòng bệnh, trước khi tiếp xúc với người bệnh (tức nguồn bệnh), chỉ cần dùng tam pông nhúng vào dầu thực vật (loại dầu ăn), rồi bôi lên niêm mạc mũi, tạo một lớp màng ngăn, không cho virus tiếp xúc với niêm mạc mũi. Khi ra khỏi vùng bệnh, rửa sạch mũi bằng cách hít nước muối loãng. Rửa mũi bằng nước muối loãng vừa có tác dụng phòng bệnh, vừa có tác dụng rửa sạch virus tránh tái nhiễm trong khi điều trị.


 Mời các bạn xem video clip của tôi trên Youtube hướng dẫn cách rửa mũi 




Các phác đồ điều trị bệnh virus:

Phác đồ I (LY Tạ Minh): tác động lên 8 vùng trên mặt

 






     Cách tác động: Từ vùng 1 đến vùng 5, dùng cào nhỏ (hoặc dĩa 3 chạc loại dầy, đầu tù) CÀO NHƯ GÃI NHẸ mỗi vùng 30-40 lần. Các vùng 6, 7, 8, dùng đầu dò (hoặc chạc ngoài cùng của dĩa) vạch mỗi vùng 30-40 lần. Cần cào theo thứ tự vùng. Bệnh nhân thường sốt, cào bên phải trước, bên trái sau.  
1) Sống mũi
2) Bờ sau tóc mai
3) Đối bình tai
4) Chân tóc trán
5) Góc trong của mắt
6) Đường cong cánh mũi
7) Đường pháp lệnh hay nếp nhăn mũi-má
8) Đường cong ụ cằm.

Tác động hết 8 vùng là một lượt điều trị. Tác động 4 lượt cách nhau 1 tiếng.
Dùng các phác đồ này cùng với kháng sinh sẽ làm tăng hiệu quả điều trị bệnh nhiễm trùng.
Ngoài ra, tác động theo các phác đồ này còn có tác dụng tăng sức đề kháng, chỉ có một điểm khác là cào bên trái trước, bên phải sau. Tác động 4 lượt mỗi ngày, 10 ngày là 1 liệu trình. Nghỉ 3 ngày giữa 2 liệu trình. Lặp lại vài liệu trình.

Trong khoảng hai năm áp dụng phác đồ I, tôi thấy kết quả rất tốt. Chỉ có điều khó cào trên mặt để chữa cho các cháu nhỏ. Tôi nghĩ đến việc tìm các vùng phản xạ của hệ thống bạch huyết ở trên người và ở chân, tay; rồi dùng cách tác động của Diện chẩn. Nhờ biết “ti toe ba chữ tiếng Tầu-Chỉ đủ đọc sách để hầu bà con”, tôi tìm được các hình của các đồng nghiệp China vẽ vùng phản xạ (theo ngôn ngữ Diện Chẩn, là các vùng phản chiếu) của hệ thống bạch huyết trên chân và tay. Từ đó tôi lập nên phác đồ II và III. Dựa trên kiến thức Y học của bản thân, tôi lập nên phác đồ IV.

Phác đồ II (BS Lâm Hữu Hòa): cào 5 vùng trên bàn chân:  





1) Phản chiếu của cột sống ở mặt trong bàn chân. Là đường tiếp giáp giữa mu và gan bàn chân phía ngón cái. Nên chia hình phản chiếu cột sống làm 4 đoạn, cào từ đoạn gót chân đến đoạn ngón cái. Mỗi đoạn cào 40 lần.
2) 4 khe liên ngón (huyệt bát phong): phản chiếu của hệ bạch huyết vùng đầu, cổ. Mỗi khe vạch 40 cái.
3) Vùng trước-trên mắt cá ngoài: phản chiếu của hệ bạch huyết nửa thân trên
4) Vùng trước-trên mắt cá trong: phản chiếu của hệ bạch huyết nửa thân dưới
5) Vùng gian đốt bàn I-II: phản chiếu của hệ bạch huyết vùng ngực

Dùng cào nhỏ (hoặc dĩa 3 chạc loại dầy, đầu tù) cào mỗi vùng 40 lần. Nên cào theo thứ tự vùng. Bệnh nhân thường sốt, cào bên phải trước, bên trái sau. Cào hết 5 vùng là một lượt điều trị. Cào 4 lượt cách nhau 1 tiếng. Nguyên tắc điều trị này áp dụng cho tất cả các phác đồ.
Nguyên tắc điều trị bệnh virus cấp tính là điều trị càng sớm càng tốt. Lúc bí, không có dụng cụ gì, các bạn lấy móng tay mà cào.


Phác đồ III (BS Lâm Hữu Hòa): tác động lên 5 vùng trên mu bàn tay:

 



                 
1) Phản chiếu cột sống trên mu ngón cái
2) 4 khe liên ngón (huyệt bát tà): phản chiếu của hệ bạch huyết vùng đầu, cổ. Mỗi khe vạch 40 cái.
3) Vùng cổ tay phía ngón út: phản chiếu của hệ bạch huyết nửa thân trên
4) Vùng cổ tay phía ngón cái: phản chiếu của hệ bạch huyết nửa thân dưới
5) Vùng gian đốt bàn I-II, gần khớp bàn ngón I: phản chiếu của hệ bạch huyết vùng ngực


Trong 5 vùng của phác đồ II và III, các vùng 3, 4 và 5 là quan trọng hơn cả. Khi điều trị sớm, tôi chỉ cào 3 vùng này cũng khỏi rất nhanh.


Phác đồ IV (BS Lâm Hữu Hòa): Tác động lên các vị trí phóng chiếu của các hạch bạch huyết

 




1) Vùng quanh tai, dưới hàm và dọc “cần cổ” (tức cơ ức đòn chũm). Nên chia nhỏ thành các vùng: trước tai, chẩm và sau tai, dưới hàm, dọc cơ ức đòn chũm. Mỗi vùng nhỏ cào 40 lần.
2) Vùng nách
3) Nếp bẹn

Nên dùng dầu dừa hoặc dầu vaseline xoa vào các vùng này trước khi cào.



Chúng ta có thể tạo ra các phác đồ kết hợp. Ví dụ: Phác đồ IV + Phác đồ II = Phác đồ 4-2; Tương tự ta có thêm các phác đồ 4-3 và 3-2.
Trong các phác đồ kết hợp, theo tôi, chỉ cần dùng các vùng chính.
Phác đồ 4-2: cơ ức đòn chũm, hố nách, nếp bẹn và các vùng 3, 4, 5 của chân.
Phác đồ 4-3: cơ ức đòn chũm, hố nách, nếp bẹn và các vùng 3, 4, 5 của tay.
Phác đồ 3-2: các vùng 3, 4, 5 của tay và chân.

Mong tin phản hồi của các bạn
   - ĐT: 093 650 9494
   - email: lamhuuhoa@yahoo.com 

                                           Bác sỹ Lâm Hữu Hòa

2014-12-16

CHỮA CHÂN TAY LẠNH

Để chữa chân tay lạnh
Cứu Đại Chùy, Mệnh Môn
Thần Khuyết, Túc Tam Lý
Dũng Tuyền cũng cứu luôn.

Cứu cách gừng rất tốt
Lát mỏng một ly hai
Lấy tăm chọc gừng thủng
Cứu huyệt đỏ thì thôi.

Đại Chùy, Túc Tam Lý
Dũng Tuyền cứu bình thường
Mười đến hai mươi phút
Ngâm chân khi lên giường.

Mệnh Môn và Thần Khuyết
Hai huyệt nằm đối nhau
Cùng phải cứu khá lâu
Hai mươi, ba mươi phút.

Tạo thói quen trước bữa
Uống cốc nước gừng tươi
Có pha thêm đường đỏ
Đỡ lạnh bụng, ấm người.

  BS Lâm Hữu Hòa
     093 650 9494

2014-05-30

AN CUNG NGƯU HOÀNG HOÀN: UỐNG SAI TẤT CÓ HẠI

AN CUNG NGƯU HOÀNG HOÀN:
UỐNG SAI TẤT CÓ HẠI
CHUYÊN GIA TRUNG Y PHÂN TÍCH TỈ MỈ SỰ MÊ TÍN “THẦN DƯỢC”

        Công dụng chủ yếu của An Cung Ngưu Hoàng Hoàn (ACNHH) là thanh nhiệt giải độc, trấn kinh khai khiếu (chống co giật và hồi sinh), trong dân gian vẫn phong là “thần dược” cấp cứu trúng phong, không ít gia đình chuẩn bị sẵn một vài viên để thời khắc quan trọng có thể cầu mong công hiệu “khởi tử hồi sinh”. Chính vì vậy, một thời gian dài, mọi người vẫn truyền nhau tác dụng thần kỳ của ACNHH. ACNHH được sản xuất trước năm 1993, có lúc trên mạng, giá được đẩy lên đến hơn 1 vạn tệ/1 hoàn. Nhưng chuyên gia trung y nói rằng, trong dân gian tồn tại nhiều ngộ nhận liên quan đến cách dùng và hiệu quả điều trị của ACNHH, cần đặc biệt làm sang tỏ.

Ngộ nhận 1: Phàm trúng phong (Tai biến mạch máu não) tất dùng ACNHH.
   
      Có người cho rằng, ACNHH đã là thuốc “chủ trị trúng phong hôn mê”, thế thì khi trong gia đình có người già đột nhiên xuất hiện triệu chứng nói “méo tiếng”, chân tay yếu, tê dại cứ cho người bệnh uống ngay 1 viên rồi đi bệnh viện sau.

      Tiến sỹ Y Khoa Hạnh Vũ Kiên, Giám đốc BV số 3 Quảng Châu trực thuộc Viện Y học Dân tộc nói, ACNHH tuy có tác dụng điều trị trúng phong thời kỳ cấp tính, nhưng vì dược tính hàn lương, cần chú ý biện chứng sử dụng. Những người tố chất tỳ vị hư hàn đặc biệt cần thận trọng khi dùng. Những người bị hôn mê đàm nhiệt có thể uống, những người không rõ đàm nhiệt hoặc tỳ vị hư hàn dùng không phù hợp, nếu dùng có thể làm bệnh tình nặng thêm. Ví dụ: Hai bệnh nhân cùng là trúng phong hôn mê, một người cần dùng thuốc thanh nhiệt hóa đàm, tỉnh thần khai khiếu; nhưng người kia lại phải dùng thuốc ôn hóa đàm thấp, tỉnh thần khai khiếu. Những điều này, không có chuyên môn thì không thể hiểu được, tất cần thầy thuốc Đông Y biện chứng xử lý.

      Tiến sỹ Hạnh Vũ Kiên nói, chỉ có trúng phong NHIỆT BẾ, tức xuất hiện triệu chứng “đột nhiên hôn mê, mặt đỏ thở thô, mắt miệng méo lệch” mới là chứng thích hợp dùng ACNHH. Các loại trúng phong khác đều không phải là những chứng dùng ACNHH. Ví vụ: trúng phong thoát chứng hôn mê (có các triệu chứng rêu lưỡi trắng trơn, hàn đàm tăng tiết) không được dùng ACNHH, nếu không, sẽ làm bệnh nặng thêm.

Ngộ nhận 2: Dùng ACNHH để dự phòng bệnh tim mạch.

     ACNHH là thuốc cấp cứu, Đông Y chỉ dùng điều trị chứng cấp tính, chứ không phải là thuốc dự phòng. Tiến sỹ Hạnh Vũ Kiên chỉ rõ, người bệnh tim,mạch não, nhất định phải điều trị đúng bệnh. Ví dụ: huyết áp cao thì cần uống thuốc hạ áp; mỡ máu cao cần uống thuốc hạ mỡ máu v.v. Uống ACNHH để dự phòng, chỉ làm chi phí tăng cao mà tác dụng hạ huyết áp không thể so sánh với các thuốc hạ áp.

      Hơn nữa, ACNHH có chứa chu sa và hùng hoàng v.v…có tính độc. Dược điển ghi ró: thành phần chủ yếu của chu sa là sulfua thủy ngân. Hàm lượng thủy ngân khoảng 86,2%, lưu huỳnh khoảng 13,8%. Do có chứa chu sa nên không thể uống ACNHH quá liều hoặc nhiều ngày. Đặc biệt là những người có công năng gan, thận bất thường không nên dùng để tránh ngộ độc thủy ngân, làm bệnh tình nặng thêm.

      Cũng vì vậy, ACNHH không thể dùng nhiều ngày, khi bệnh nhân hồi tỉnh phải ngừng uống.

Ngộ nhận 3: Di chứng hậu trúng phong cũng uống ACNHH

      Sau thời kỳ trúng phong cấp tính, rất nhiều bệnh nhân vẫn có các di chứng với các mức độ khác nhau (nói không lưu loát, bán thân bất toại, méo miệng). Giai đoạn này gọi là thời kỳ di chứng hậu trúng phong. Tiến sỹ Hạnh Vũ Kiên nói, tính mạng bệnh  nhân lúc này đã cứu được rồi, nhưng khả năng nói ít nhiều cũng bị ảnh hưởng, lúc này cần sớm tiến hành điều trị phục hồi chức năng.

      Trong thời kỳ hồi phục, người bệnh trúng phong có thể tiến hành các loại phương pháp trị liệu và tập luyện hồi phục chức năng, trong đó có thuốc đông y, massage, châm cứu v.v…Vào lúc này, ACNHH không những vô hiệu, mà với người có thể chất kém còn có thể xuất hiện triệu chứng hoa mắt chóng mặt, tiêu chảy v.v…

Ngộ nhận 4: ACNHH càng được sản xuất từ lâu càng tốt

     Đông dược cũng có hạn dùng, thuốc đông y thành phẩm nói chung có hạn dùng 2-3 năm; hạn dùng dài nhất là 5 năm; thuốc đông y dạng viên thường có hạn dùng 1 năm.

         ACNHH thuộc loại đông dược thành phẩm. Xạ hương thiên nhiên và ngưu hoàng trong ACNNH là những loại dược liệu thơm dễ bay mùi, để lâu nhất định ảnh hưởng công hiệu. Trên mạng, cái gọi là ACNHH càng được sản xuất từ lâu càng tốt, giá cao tới mức hơn 1 vạn tệ/1 hoàn, chỉ là xảo thuật buôn bán mà thôi, không có cơ sở khoa học.

Ngộ nhận 5: Massage cũng dùng ACNHH

      Massage chủ yếu là thông qua tác động của bàn tay lên các vùng cơ thể, điều hòa sinh lý, tình trạng bệnh lý của cơ thể để đạt được hiệu quả điều trị.

      Dùng ACNHH như một chất “tinh dầu”, chất “dẫn truyền thần kinh” khi massage, chẳng những lãng phí mà cũng không thu được hiệu quả của ACNHH, chỉ làm tăng chi phí của người bệnh. Nói rằng, massage cũng cần dùng ACNHH, thực sự chỉ là thủ pháp của người làm massage lôi kéo mọi người mua thuốc mà thôi.

       Người dịch: Bác sỹ Lâm Hữu Hòa.
                                 093 650 9494

2014-05-22

AN CUNG NGƯU HOÀNG HOÀN CHỈ TRỊ CHỨNG TRÚNG PHONG DƯƠNG BẾ

AN CUNG NGƯU HOÀNG HOÀN CHỈ TRỊ CHỨNG TRÚNG PHONG DƯƠNG BẾ
     
Tác giả: Dương Tương Quốc (杨相国)

Tôi làm lâm sàng Trung Y mấy chục năm, phát hiện thấy khá nhiều bệnh nhân trúng phong (tai biến mạch máu não-chú thích của người dịch, BS Lâm Hữu Hòa) lạm dụng An Cung Ngưu Hoàng Hoàn (ACNHH). Kết quả là chỉ có bệnh nhân trúng phong DƯƠNG BẾ chứng mới có công hiệu, còn bệnh nhân trúng phong ÂM BẾ chứng, trúng phong THOÁT chứng, trúng phong KINH LẠC và DI CHỨNG hậu trúng phong thì hầu như hay không có công hiệu, thậm chí còn làm bệnh tình nghiêm trọng hơn hoặc nguy hiểm tới sinh mạng.

NGƯU HOÀNG trong ACNHH có tác dụng thanh tâm giải độc, thanh nhiệt trừ phong, thông đàm khai khiếu; SỪNG TÊ có tác dụng định kinh (an thần), lương huyết giải độc (ngày nay vì luật cấm dùng sừng tê nên dược liệu này được thay bằng sừng trâu nước- chú thích của người dịch, BS Lâm Hữu Hòa); XẠ HƯƠNG có khả năng khai khiếu tỉnh thần, thông bế cường tâm; BĂNG PHIẾN tạo hương thơm khai khiếu, thanh nhiệt chỉ thống; UẤT KIM tạo hương thơm trừ uế; HOÀNG LIÊN, HOÀNG CẦM, CHI TỬ có khả năng thanh nhiệt trừ phiền, tiêu hỏa giải độc; HÙNG HOÀNG có khả năng thông đàm giải độc; CHÂU SA, TRÂN CHÂU, VÀNG LÁ có khả năng an thần chấn kinh. Các dược liệu kể trên được phối hợp trong ACNHH có công hiệu đặc thù độc nhất đối với trúng phong DƯƠNG BẾ chứng.

Nhưng trúng phong Trung Y phân thành hai loại: Trúng phong KINH LẠC và trúng phong TẠNG PHỦ. Nói chung, bệnh nhân trúng phong kinh lạc không thay đổi thần chí (tỉnh táo), tức bệnh nhẹ; bệnh nhân trúng phong tạng phủ có thần chí không tinh (nói sảng), tức bệnh nặng. Trúng phong tạng phủ lại chia thành hai loại: Trúng phong BẾ CHỨNG và trúng phong THOÁT CHỨNG. Trúng phong BẾ CHỨNG lại chia ra: Trúng phong DƯƠNG BẾ CHỨNG và trúng phong ÂM BẾ CHỨNG. Những bệnh nhân trúng phong tạng phủ đều có triệu chứng đột nhiên hôn mê, bất tỉnh nhân sự, miệng ngậm hàm cắn chặt, hai tay nắm chặt cứng, bí đại tiểu tiện, chi thân co giật. Nhưng dương bế chứng còn có sắc mặt đỏ, thân thể nóng, hơi thở thô, tứ chi động bất an, tâm phiền miệng hôi, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng trơn, mạch huyền hoạt và nhanh v.v. Còn âm bế chứng có thêm sắc mặt trắng môi tím, nằm yên bất động, tứ chi không ấm, đàm dãi tăng tiết, rêu lưỡi trắng trơn, mạch trầm hoạt và chậm. Còn bệnh nhân trúng phong thoát chứng thì đột nhiên hôn mê, bất tỉnh nhân sự, mắt nhắm miệng mở, thở yếu nhưng ồn (phát thành tiếng khi thở qua mũi), tay buông chi lạnh, mồ hôi ra không ngừng, đại tiểu tiện không tự chủ, chi liệt mềm, lưỡi liệt, mạch nhỏ yếu hoặc không bắt được. Đến mức chi lạnh mồ hôi ra rất nhiều, đờm dãi ra nhiều, mạch phù đại vô căn hoặc mạch nhỏ yếu không bắt được là thoát chứng nguy hiểm.

ACNHH là thuốc cấp cứu của Trung Y. Đối với trúng phong, ACNHH chỉ dùng điều trị TRÚNG PHONG DƯƠNG BẾ CHỨNG.

Ngoài trúng phong dương bế chứng ra, ACNHH còn được dùng trong các chứng nhiệt bế khác. Ví dụ: viêm não Nhật Bản, viêm màng não dịch tễ, bệnh lị nhiễm độc, urê huyết cao, hôn mê gan v.v.  


       Người dịch: BS Lâm Hữu Hòa.
                               093 650 9494

2014-05-17

Hướng dẫn sử dụng An Cung Ngưu Hoàng Hoàn

Hướng dẫn sử dụng An Cung Ngưu Hoàng Hoàn
(Dịch theo bản hướng dẫn của Đồng Nhân Đường Bắc Kinh, Công ty sản xuất An Cung Ngưu Hoàng Hoàn. Người dịch: Bác sỹ Lâm Hữu Hòa)

Thành phần: Ngưu hoàng, bột sừng trâu , xạ hương, trân châu (ngọc trai), chu sa, hùng hoàng, hoàng liên, hoàng cầm, chi tử, uất kim, băng phiến.

Tính trạng: Sản phẩm này là một viên huàn lớn hoặc viên huàn lớn có lớp vỏ màu vàng, sau khi bỏ lớp vỏ màu vàng là màu vàng cam đến nâu đỏ; mùi thơm, vị đắng.

Công năng, chủ trị: Thanh nhiệt giải độc, trấn kinh khai khiếu. Dùng trong sốt, tà nhập tâm bào, sốt cao hôn mê, mê sảng; trúng phong hôn mê, viêm não, viêm màng não, bệnh não do trúng độc, xuất huyết não, chứng bại huyết (tiêu huyết) gặp ở những người mắc các chứng nêu trên.

Quy cách: mỗi viên hoàn 3g.

Phương pháp sử dụng: Uống 1 viên x 1 lần/ngày. Trẻ em dưới 3 tuổi ¼ viên; trẻ em 4-6 tuổi ½ viên x 1 lần/ngày.

Phản ứng phụ: Hạ thân nhiệt, dị ứng.

Cấm kỵ: Hiện tại không có.

Chú ý:
1)     Thuốc này dùng trong trường hợp hôn mê nhiệt bế; không được dùng trong hôn mê hàn bế.
2)     Thuốc này có chứa xạ hương, hương thơm khuếch tán, làm thương tổn thai vì vậy thai phụ dùng thận trọng
3)     Trong thời kỳ uống thuốc, cần ăn uống thanh đạm, kỵ thức ăn cay và chất béo, để tránh sinh đàm.
4)     Thuốc này có chứa chu sa, hùng hoàng, không dùng quá liều hay lâu dài; người có công năng gan thận kém dùng thận trọng.
5)     Trong khi điều trị, nếu xuất hiện da lạnh, sắc mặt trắng, vã mồ hôi lạnh, mạch suy là lúc bế chứng biến thành thoát chứng, phải ngừng uống.
6)     Những người hôn mê sốt cao, trúng phong hôn mê…khó uống thuốc thì dùng thuốc qua ống đường mũi.
7)     Thai phụ, người cho con bú, trẻ em, người già dùng thuốc này theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc.
8)     Vận động viên và người có thể chất dị ứng dùng thận trọng
9)     Trẻ nhỏ uống thuốc, bắt buộc dưới sự giám sát của người lớn.
10) Nếu bạn đang dùng các loại thuốc khác, xin vui lòng tham khảo ý kiến thầy thuốc trước khi sử dụng sản phẩm này.
11)  Trước khi uống, phải bóc bỏ vỏ sáp, nhựa và giấy bóng kính, không được nuốt cả viên thuốc chưa bóc vỏ.

              Người dịch: BS Lâm Hữu Hòa.
                                     093 650 9494